This post has already been read 46 times!

*Tân can – Bàn Canh long thành – Triều ca

Nhà Thương thay nhà Hạ , Tư liệu lịch sử Trung hoa viết … vì lụt lội nhà Thương đã dời đô nhiều lần , đến vua Bành Canh dời đô về phía Nam (nay) Hoàng hà , giới qúy tộc phản đối nhưng vua Bàn canh cương quyết dẫn dân và lính vượt Hà xuống phía Nam xây dựng kinh đô mới chấm dứt triều Thương đồng thời mở đầu thời Thương Ân trong lịch sử , Sử thuyết Hùng Việt cho thực ra vua Bàn Canh đã dẫn dân vượt Trường giang lên phía Bắc nay và lập kinh đô mới không phải vượt hà như người Trung quốc nói .
Nhìn qua sơ đồ trên thấy 2 bên bờ Trường giang có thành Tân Can và Bàn long thành , Tân can là can Tân trong Thập can phía Nam nay Trường giang quãng giữa tỉnh Hồ Nam và Giang Tây , đối diên với can Tân theo chiều Bắc Nam trên đồ hình Hà thư là can Canh như thế Bàn long thành ở Hồ Bắc thực ra là Bàn Canh long thành nghĩa là thành vua Bàn Canh , sự việc đã rõ nhưng vì chủ ý muốn mập mờ tráo đổi lịch sử người Trung quốc đã dấu đi chữ Canh để không còn nhận ra được thông tin mang trong bản thân tên gọi kinh đô đầu nhà Ân hay Thương Ân .
Từ Trường giang nhà Thương Ân dần mở rộng lãnh thổ về phía Hoàng hà , Trụ vương vua sau cùng nhà Thương Ân tức Thương thứ II đã xây biệt đô Triều ca vớí Cự kiều và trích tinh lầu ..v.v. ở Hà Nam .

*Phong châu – Cun Ninh – Lạc ấp.
Dòng dõi nhà Châu vốn ở đất Đào , Bắc Trung Việt ngày nay , thời đ̣ế Khải gọi là Hữu Hổ thị tức họ hỏa – họ Lửa tiền nhân của người La về sau . Hữu Hổ thị bị đế Khải đày đi 4 phương gọi là Tứ Di hay Di Hạ phân biệt với dân theo đế Khải gọi là Hoa Hạ , ông Cổ công đản phủ dẫn họ Hoả tụ cư ở Kì sơn vùng Kì Châu nay là Qúy châu . đến đời ông Cơ Xương được nhà Thương Ân phong làm Tây bá và ban cho thực ấp vạn hộ nay là vùng Vạn gia bá thuộc Quảng Tây . Cơ Xương trước đánh nước Mật Tu tức mặt Tây (Vân Nam) sau đánh Sùng hầu Hổ và thu đất của Bắc bá hầu là Giao chỉ lập nên nước Âu – Lạc tức quốc gia của người Ai lao di và Lạc Việt , sau Cơ Xương được con lả Châu Vũ vương tôn phong là Châu Văn vương nên Âu lạc cũng gọi là Văn lang tức nước của Văn vương (Lang = vương) .
Kinh đô nước Âu Lạc là Phong châu cũng gọi là Phong kinh nay thuộc Phú thọ Việt nam .Vũ vương bình thiên hạ lên ngôi thiên tử thì Phong kinh là đế đô đầu tiên của nhà Châu .
Châu Vũ vương trước mang ttước Ninh vương tức chúa đất phía Tây đã dời đô về Côn Ninh (côn – cun nghĩa là thủ lãnh) nay lập lờ đổi thành Côn minh ở Vân Nam. Côn Ninh chính là Kiểu hay Cửu kinh của nhà Tây Châu xưa (Cửu – 9 Dịch tượng chỉ phía Tây , 8 – Bát chỉ phía Đông) .
Nhà Đông Châu dời đô về Lạc ấp hay đại ấp Lạc cũng gọi là Đông đô, Theo Truyền thuyết thời đế Nghi hay Đường Nghiêu đặt tên nước là Xích qủy – Thủy tức quốc gia Nước , nước – nác – lạc chỉ là biến âm , Lạc ấp hay đại ấp Lạc nghĩa là thủ đô nước Lạc .
Lạc ấp nơi Châu công dời đám ‘ngoan dân’ Hoàng tộc đại thần nhà Thương ân trước về sinh sống , châu công cho đắp thành lính ở gần để canh chừng , thành ấy còn vết tích là thành Cổ loa và kinh đô Lạc ấp nằm trong lòng thành phố Hà nội ngày nay .

*Thành đô – đô thành.
Sử Trung hoa viết :Tần Huệ Vương [năm thứ 310 trước Công nguyên sai Trương Nghi xây thành Thành Đô,…khiến ta tưởng rằng …trên đất Tần có 1 thành phố tên là Thành đô… thực ra Thành đô là danh từ chung cấu trúc ngôn ngữ Việt đồng nghĩa với thủ đô hay kinh đô , nếu ta đảo lại là Đô thành thì rõ nghĩa ngay ; điều này xác định đất khởi phát và trung tâm của nhà Tần là Tứ xuyên không phải là Thiểm tây . thời Châu nước Tấn vỡ làm 3 : Triệu ở Nam Thiểm Tây thực ra là chiêu chỉ phía Tây biến âm mà ra , Hàn ở Hà Nam chính xác là Hàm , hà nam thiết Hàm và Ngụy ở An huy ngày nay . Chiêu – châu biến ra Triệu để sự kiện quan trọng hàng đầu của lịch sử Thiên hạ là những sự kiện liên quan giữa Tần và nhà Châu như việc Doanh tử Sở bố Tần thủy hoàng lấy công chúa nhà Châu là Mị Châu và ở rể ở kinh đô nhà Châu sinh ra Doanh Chính – Tần thủy hoàng bị đá cạo sử gia quàng xiên thành Tử Sở lấy Triệu Cơ và ở rể tại nước Triệu , sự việc này đã hầu như thay đổi hẳn lịch sử Trung hoa .

* Trường An – Phiên Ngung .
Cuộc nổi dậy chống Tần thành công , Thiên hạ nằm dưới quyền Hán vương và Sở vương , yên bình chưa bao lâu Người Thiên hạ lại khốn khổ vì binh đao trong cuộc Hán Sở tranh thiên hạ . cuối cùng Sở vương Hạng Vũ thua phải tự sát Hán vương Lưu Bang độc chiếm Thiên hạ lập ra triều đại sử Trung quốc gọi là Tây Hán .
Triều đại do ông Lưu Bang kiến lấp có thực là triều đại Hán dòng Mongoloid hay không mang tính quyết định với lịch sử Trung hoa , nếu đây là 1 triều đại của Hán tộc thì việc quốc thống truyền từ Tây Hán sang Đông Hán là sự kế thừa hợp lẽ , nền văn hóa văn minh dân tộc liên tục trong dòng chảy nhưng ngay trong dòng sử chính thống đã chứa đựng nhiều thông tin không bình thường :
Lưu Bang người kiến lập triều đại lại có hiệu chính thức là Hiếu Cao tổ thay vì thông thường theo phép viết sử Trung hoa phải là Hán Vũ đế .Hán là tên triều đại , Vũ là vua sáng lập , trong dòng Hiếu phải đ̣ến Lưu Triệt đánh bại triều đành Nam Việt thống nhất Thiên hạ mới được gọi là Hiếu Vũ như thế lịch sử Trung hoa công nhận Lưu Triệt mới là người lập nên triều Hiếu , Lưu Bang chỉ là ông tổ cao nhất của hoàng tộc . sự kiện này đã xác quyết triều đại do Lưu Triệt – Hiếu Vũ kiến lập và ông Lưu Bang là Cao tổ chính danh phải gọi là triều Hiếu không phải là triều Tây Hán nòi Mongoloid .
Lưu Bang theo sử Trung quốc hiện hành là người đất Phong nước Sở ở Hồ Nam ngày nay . Hồ Nam dân cư đại bộ phận là người Miêu và Thổ gia thuộc chủng Mongoloid phương Nam là chủng hoàn toàn khác với người Hán chủng Mongoloid vùng Hoàng Hà . Sử thuyết Hùng Việt cho Lưu Bang chính là Lí Bôn của Việt sử , Lí và Triệu là 2 dòng hoàng tộc Trung hoa còn Lưu là biến âm của Liêu là tên gọi 1 nước , 1 tộc người dòng Mongoloid sinh trú ở vùng Sơn Tây Hà Bắc ngày nay . Đông Hán chính là tiền thân của nước Liêu – Khiết Đan về sau .
Kinh đô triều Hiếu là Trường An thuộc Thiểm Tây ngày nay , Hiếu Cao mất thực quyền điều hành triều chính rơi vào tay Lữ hậu và con cháu họ Lữ , sau khi Lữ hậu mất đám công thần lập quốc làm cuộc đảo chính chiếm lại quyền hành ờ kinh ̣ô Trường An , đám đại thần tướng lãnh phe Lữ hậu rút về phía Nam lập triều đình khác ờ Phiên Ngung – Quảng Đông sử Viết nam và Trung quốc gọi là nước Nam Việt thực ra phải gọi là triều đình Nam Việt của Thiên hạ mới đúng , Nam Việt gọi Lí Bôn – Lưu Bang là Triệu Vũ đế tức ông tổ đồng thời là vua kiến lập triều đại .
Như vậy thời Lí Bôn – Lưu Bang và con cháu Thiên hạ chia đôi với 2 triều đình 1 là triều Hiếu thủ đô là Trường An và 1 là triều Sử gọi là Nam Việt thủ đô ở thành Phiên Ngung Quảng Đông .

*Trường An nhà Tân .
Trường An cũng là kinh đô triều Tân , Vương Mãng thoán ngôi nhà Hiếu của con cháu Lí Bôn – Lưu Bang lập ra triều Tân , chẳng bao lâu thì Lục Lâm thảo khấu nổi loạn đánh bại quân nhà Tân chiếm kinh đô Trường An và giết Vương Mãng .

Vương Mãng mất 18 đời vua nước họ Hùng chấm dứt , đất nước từ đây nằm dưới móng ngựa quân Rợ , Lục Lâm thảo khấu hóa thành Hãn quân dựng nên 2 triều Tây và Đông của Hãn quốc , Hãn nghĩa là chúa trong Rợ ngữ , tương tự như vương quốc , nước của Hãn gọi là Hãn quốc , quân của hãn gọi là Hãn quân , suy xét bình thường nếu triều của Hán Quang vũ đế ở Hà Nam là Đông Hán thì Tây hán phài là tên gọi của triều đại của Hán Canh thủy đế ở Thiểm Tây không thể khác được .
Đám viết sử Rợ đã tráo đổi lịch sử Thiên hạ thành lịch sử Hán quốc̉ khi cạo sửa tráo chữ đổi nghĩa biến Hãn thành Hán , Hưng cũng thành Hán , họ Lí thành họ Lưu , nhà Hiếu thành nhà Tây Hán … lừa thiên hạ … cứ như thể dòng văn minh Tây Hán liên tục truyền sang Đông Hán , Rợ Hãn là truyền nhân chính thức của Tam hoàng Ngũ đế và.cổ sử Trung hoa là cổ sử của Hán tộc .
Vải thưa không che được mắt thánh chắc chắn rồi đây mọi sự sẽ rò ràng .

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *