This post has already been read 26 times!

Sách Việt nam sử Lược viết : Từ đời vua Vũ-đế cho đến hết đời nhà Tây-Hán không thấy sử nói gì đến đất Giao-chỉ nữa. Mãi đến năm kỷ-sửu (năm 29 Tây lịch) là năm Kiến-Võ thứ 5 đời vua Quang-vũ nhà Đông Hán thì mới thấy chép rằng thứ-sử Giao chỉ là Đặng Nhượng sai sứ về cống nhà Hán. Bởi vì khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, bọn Đặng-Nhượng, Tích Quang và Đỗ Mục ở Giao chỉ giữ châu quận, không chịu phục Vương Mãn…
Phân tích đoạn sử trên thu được thông tin :
Đặng-Nhượng, Tích Quang và Đỗ Mục là quan thời nhà Hiếu (Tây hán) , Dưới thời Vương Mãng Đặng-Nhượng, Tích Quang và Đỗ Mục ở Lĩnh Nam không tuân phục triều đình Trung ương đã đóng cửa tự giữ châu quận .
Năm 29 họ sai sứ về dâng cống phẩm cho Hán Quang Vũ triều Đông nước Hán tức đem Lĩnh Nam hàng phục Đông Hán .
Tình hình Thiên hạ sau Quan vũ chúa Đông Hãn quốc diệt Xích My.

Đông hãn quốc của Lưu Tú lãnh thổ là vùng Thiểm Tây Sơn tây Hà Bắc ngày nay .
Phần còn lại đất đai phía Nam Hoàng hà bị cát cứ :
1 . Lưu Vĩnh là tôn thất nhà Hán, cháu 8 đời dòng trưởng của Lương Hiếu vương – con Hán Văn Đế, chiếm cứ 20 thành ở Sơn Đông, Giang Tô, Hà Nam, An Huy; tự xưng là thiên tử nối ngôi nhà Hán .
2 – Trương Bộ ở Lang Nha, giữ 12 quận ở miền trung Sơn Đông, liên minh với Lưu Vĩnh, xưng là Tề Vương .
3 – Đổng Hiến (Hân) chiếm Thanh Đàm ở đông nam Sơn Đông, cũng liên minh với Lưu Vĩnh, tự xưng là Hải Tây vương .
4 -. Lý Hiến chiếm Lư Giang phía đông nam , tự xưng Hoài Nam vương .
5 -. Tần Phong chiếm Kinh châu ở phía nam, tự xưng là Sở Lê Vương .
6 . Công Tôn Thuật giữ đất Thục , xưng là Bạch đế nghĩa là vua phía tây .
7 – Vùng Cam túc là đất xưng hùng của Lưu Phương người Hán .
Riêng ở Giao châu thì Giao châu mục Đặng Nhượng và thái thú Giao Chỉ Tích Quang chỉ lo giữ yên châu quận không xưng đế xưng vương gì cả (có thể vì thế sử gọi là “Sĩ Tiếp” tức kẻ sĩ tiếp tục cầm quyền cai quản).
Năm 29 tức năm thứ 5 Quang Vũ xưng đế , lãnh thổ Đông hãn quốc mới chỉ là vùng Sơn Tây Hà Bắc và đang phải dành dân lấn đất với Thiên tử tự phong Lưu vĩnh Tộ hòng mở rộng đất nước . Trong tình hình cát cứ lãnh thổ Trung hoa ở thời điểm này thử hỏi đoàn sứ của Đặng Nhượng – Tích Quang từ Lĩnh Nam đi lối nào mà mang cống phẩm về bắc Hoàng hà biếu Quang Vũ như tư liệu chép ?.
Năm 36 quân Đông Hán mới đánh Tứ Xuyên và mãi tới năm 42 mới chiếm được Hồ Nam và An Huy , có tư liệu cho biết năm 36 vẫn còn quân Việt do các cừ súy lãnh đạo kéo đến cứu Bạch đế ở Tứ Xuyên như thế rõ ràng đến năm này Lĩnh Nam vẫn là đất của người Việt , vẫn do Đặng Nhượng – Tích Quang .v.v.là các quan nhà Hiếu cũ cai quản .
Theo sử hiện nay thì đầu năm 40 bà Trưng khởi binh đánh đuổi giấc Hán chiếm được 65 thành ở lĩnh Nam , Lập ra nhà nước độc lập ở Lĩnh Nam Nhưng tới năm 42 bị Phục Ba tướng quân – Mã Viện diệt .
1 trang sử nhưng chứa 2 luồng thông tin hoàn toàn trái ngược ;
* Mã Viện đã chiếm được Giao chỉ .
Bắt 300 cừ súy Việt đem về Linh Lăng , Tịch thu trống đồng nấu chảy đúc ngựa , tấu về triều luật Việt khác luật Hán 10 điều và xin cai trị bằng luật Hán sau cùng là đi đến đâu lập quận huyện theo kiểu Hán đến đó …
việc Đông Hán chiếm Giao chỉ năm 42 được xác nhận bởi những ngôi mộ kiểu Hán chỉ có trên đất Việt từ mốc thời gian này về sau .
Hành động của Mã Viện và thời điểm có mặt của mộ Hán đã xác định trước cuộc xâm lăng của Mã Viện năm 42 Giao chỉ không hề thuộc Hán .
*Mã Viện không chiếm Giao chỉ .
Mã Viện đánh bại Đô dương bộ tướng của 2 bà Trưng rồi chôn cột đồng đánh dấu ranh giới cực Nam của Đông Hán ở động Cổ Sâm – Khâm châu nay thuộc Quảng Tây , trên cột đồng khắc chữ trụ đồng gãy thì Giao chỉ diệt …như thế rõ ràng Mã Viện không chiếm được Giao chỉ …giới hạn lãnh thổ phía Nam Đông Hán vẫn không vượt Quảng Tây .
Cùng 1 lúc không thể có 2 sự việc trái ngược xảy ra . Nhưng rõ ràng tư liệu chép như thế ….vậy lí gỉải điều khác thường này sao đây ?.
Đặc biệt đoạn sử ngắn này cũng cho thấy trước cuộc xâm lăng của Đông Hán thì Giao chỉ vẫn do các cừ súy lãnh đạo , vẫn dùng luật Việt để quản trị , vẫn giữ nề nếp cổ truyền trong sinh hoạt văn hóa và phân chia địa lý hành chính hoàn toàn khác người Hán tức các triều cai trị vùng đất này trước đó như , triều Tần Hiếu (Tây hán) và Triệu Đà nước Nam Việt không phải là những triều đại của Hán tộc . Sự thực nếu Triệu Đà và̉ Hiếu Vũ là người Hán thì Mã Viện khi chiếm Giao chỉ ….chẳng còn việc gì phải làm vì dân ở đây đã Hán hóa từ đời kiệ́p nào rồi …
Tóm lại …gọi đích danh thì năm 42 bọn đầu trâu mặt ngựa (mã viện – mã diện – mặt ngựa từ người Việt dùng gọi bọn xâm lược Đông Hán ) đã đánh bại các quan đầu mục đang đóng cửa giữ thành là Đặng Nhượng – Tích Quang .v.v. chiếm Giao Chỉ và lĩnh Nam của người Việt .
Vậy việc Mã Viện đánh 2 bà Trưng thì sao ?.
Thông tin bà Trưng khởi nghĩa năm 39 – 40 chép trong sử sách hiện nay liệu có chính xác ?, năm này Giao chỉ chưa thuộc Hán thì làm gì có thể có khởi nghĩa chống quân Hán chiếm đóng ?.
Tùy thư -Liệt truyện -Lâm Ấp
….“Tổ tiên của Lâm Ấp, nhân có loạn người đàn bà Trưng Trắc ở Giao Chỉ cuối thời Hán, con của Công tào trong huyện là Khu Liên giết Huyện lệnh, tự hiệu làm …”… Khu Liên cắt một phần lãnh thổ cực nam của quận Nhật Nam – huyện Tượng Lâm để thành lập vương quốc riêng: Lâm Ấp. ”
Đọc đoạn sử trên ta không thể hiểu khác là khởi nghĩa Hai bà Trưng xảy ra vào cuối thời Đông Hán , cùng trong quãng thời gian Khu liên giết huyện lệnh Tượng lâm và xưng vương .
Có tư liệu viết : Khu Liên còn gọi là Khu Đạt . Năm 192, dân Tượng Lâm giết huyện lệnh đưa Khu Liên lên cai trị, như thế thời điểm khởi nghĩa của Trưng vương đã được xác định trong khoảng trước sau gần với năm 192 .Sử thuyết họ Hùng cho Cuộc khởi nghĩa của Trưng Trắc chính là cuộc khởi nghĩa của Trương Giác còn gọi là khởi nghĩa ‘khăn vàng’ chống lại Đông hãn quốc trong những năm 184 – 205 .
Cũng tư liệu lịch sử Trung quốc :
“Du Ích Kỳ nói: “Mã Văn Uyên dựng hai cột đồng ở bờ bắc Lâm Ấp, có 10 gia đình binh lính sót lại không trở về, ….
Lịch Đạo Nguyên (466 hoặc 472-527) khi biên soạn Thủy Kinh chú sớ đã chú thêm:
“Theo Cựu Đường chí, Mã Viện đi đánh dân Man Lâm Ấp, đến quận Nhật Nam, lại đi về phía Nam hơn 400 dặm là đến nước Lâm Ấp, lại đi về phía nam hơn 2000 dặm, có nước di Tây Đồ. Viện trồng hai cột đồng ở biên giới phía nam quận Tượng Lâm, phân ranh giới với nước di Tây đồ để ghi lại đức tốt của nhà Hán”. ( Thủy Kinh chú sớ, sđd, tr 395).
Xét ra nếu cột đồng chôn ở ranh giới Giao chỉ và Lâm ấp thì Mã Viện không thể đánh bại Đô Dương bộ tướng của Trưng vương và chôn cột đồng phân ranh trước khi Khu Liên lập nước Lâm ấp năm 190-192.
Kết cục của trận đánh Mã Viện – Trưng vương …Sau khi truy kích và tiêu diệt quân khởi nghĩa do Đô dương cầm đầu là …2 bên nghị hoà …
….Viện bèn cắt giới phân cho .
Man thành đắp lũy đấy là Tư minh.
Đồng trụ cắm ở Man thành .
Hán – Trưng hai nước dẫn binh cùng về .
Rõ ràng Mã Viện không chiếm được Giao chỉ …đành phải đánh dấu ranh giới cực Nam của Đông Hán bằng cột đồng chôn ở Động Cổ Sâm – Khâm châu nay thuộc Quảng Tây nơi ranh giới giữa Giao chỉ và Lâm ấp .
Tóm lại có tới 2 lần đám đầu trâu mặt ngựa gọi tắt là Mã diện – mã Viện đánh Giao chỉ , lần đầu năm 42 đã đánh thắng Sĩ Tiếp Đặng Nhượng – Tích Quang và chiếm đóng Giao chỉ . Lần sau trong khung thời gian khởi nghĩa Khăn Vàng cuối Đông Hán Mã Diện đã thất bại phải cắm mốc phân ranh rồi ….Hán Trưng 2 nước dẫn binh cùng về …
Sử thuyết Hùng Việt bằng vào việc Mã Viện chôn cột đồng ở ranh giới Giao chỉ và Lâm Ấp cho rằng tên gọi Đô Dương chỉ là tam sao thất bổn của Đạt vương tức Khu Liên – Khu Đạt người khai sinh ra nước Lâm Ấp cũng chính là Triệu quốc Đạt .Theo 1 số nhà nghiên cứu thì Khu Đạt đồng nghĩa với vua Đạt , Triệu Đạt và Đạt vương cũng có nghĩa là vua Đạt – chúa Đạt , Đạt là kí âm của đak là 1 từ thuộc ngôn ngữ Nam đảo có nghĩa là ‘Nước’ , ở đây không dùng từ nước theo nghĩa vật chất mà Nước là Dịch tượng chỉ phương Nam ; Khu Đạt – Triệu (quốc) Đạt và Đạt vương đều cùng nghĩa là Nam đế – Nam chúa .
Sử Việt Nam viết : Triệu quốc Đạt và em là Triệu thị Trinh khởi binh năm 246 ở Cửu chân – Thanh hoá chống lại ách thống trị của nhà Ngô thời Tam quốc . thời kỳ Tam Quốc ở Trung Hoa có Ngụy (220-265), Thục Hán (221-263) và Đông Ngô (222-280); nước ta lệ thuộc dưới sự thống trị của Đông Ngô, dân tình vô cùng khổ sở, lầm than. …
Nhưng :
Thiên Nam ngữ lục viết về bà Triệu:
….Cửu Chân có một nữ nhi
Lẩn thẩn qua kì, tuổi ngoại hai mươi
………………………….
Sức quảy được vạc nghìn cân
Chẳng hiềm Mã Viện, hơn phân Lí Thù…
Và Trong “Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” :
……………..
“Đầu voi phất ngọn cờ vàng
Sơn thôn mấy cõi, chiến trường xông pha
Chông gai một cuộc quan hà
Dù khi chiến tử còn là hiển linh”.
Thông tin rút ra từ 2 đoạn trích trên :
Bà Triệu với áo vàng khăn vàng đầu voi phất ngọn cờ vàng thì đích thị là tướng của khởi nghĩa Khăn vàng , nhận định này được kiện chứng bởi câu …Chẳng hiềm Mã Viện …, Mã Viện – Phục ba tướng quân là danh tướng của Đông Hán đã tiến đánh quân 2 bà Trưng ở Giao chỉ và Tây nam Trung hoa .
Thông tin trên chỉ ra việc sử Việt hiện nay viết anh em Triệu quốc Đạt Triệu thị Trinh khởi nghĩa năm 246 chống quân Ngô là không chính xác .
Bài “Tên thụy của Trưng nữ Vương và các sự tích Ả Lã Nàng Đê” trước đã chỉ ra ; danh xưng Triệu Ẩu – Lệ Hải bà vương chỉ là tên ‘chữ’ có gốc từ Ả và Lã và cũng đã chỉ ra : Ả Lã nàng Đê tức bà Triệu là tướng của 2 bà Trưng ; như thế là xác nhận luận điểm của Sử thuyết Hùng Việt : Mã Viện đánh 2 bà Trưng tổng thủ lãnh khởi nghĩa cũng là đánh bà Triệu và anh là Triệu quốc Đạt 2 tướng của Khăn Vàng ở Giao Chỉ và miền Tây – Nam Trung hoa .
Tổng kết :
Lịch sử Trung hoa và Việt Nam có 2 Phục ba tướng quân .
*Phục Ba tướng quân Lộ bác Đức của nhà Hiếu là người họ Hùng , cuộc chiến Hiếu Vũ và Lữ Gia là cuộc nội chiến dành Thiên hạ .
*Phục ba tướng quân Mã Viện tướng Đông Hán chính là kẻ đã tròng ách thống trị giặc Hán vào đầu vào cổ người Việt.
Và cũng có 2 Mã Viện (chính xác là Mã diện viết tắt của đầu trâu mặt ngựa chỉ đám quan quân xâm lược ).
*Mã Viện –  Mã văn Uyên ? …cầm đầu Hán quân đánh chiếm Giao chỉ của Sĩ Tiếp Đặng Nhượng – Tích Quang năm 42.
*Mã Viện – khuyết danh? tướng Hán đàn áp cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng ở Giao chỉ và Tây Nam Trung Hoa do bà Trưng và anh em bà Triệu lãnh đạo kết thúc bằng việc ra đời nước ‘Trưng’ do Sĩ Nhiếp – Ngạn Uy làm kẻ Sĩ nhiếp chính .
Chưa hết …khả năng phân tích phán đoán của đầu óc con người phải gánh thêm thử thách …có 2 Sĩ Nhiếp .
* Đặng Nhượng , Tích quang – Sĩ Nhiếp hay Sĩ Tiếp thời hậu Vương Mãng .
* Ngạn Uy – Sĩ Nhiếp kẻ sĩ nhiếp chính thời Hậu Trưng vương .
Chính những điều trùng đôi này đả khiến sử Việt rối như mớ bòng bong …gỡ mãi vẫn chưa ra .