800px-Chienquocthathung260TCN - 1a

This post has already been read 25 times!

Triều đại : Hùng Việt vương  – Tổ nhà Hạ .

Việt

 

Vua khai sáng :– Tuấn Lang .
Danh hiệu khác trong Việt sử : Tản Viên, Sơn tinh, Tản Viên sơn thánh quốc chúa đại vương, Nguyễn Tuấn.
Danh hiệu khác trong Hoa sử : Đại vũ, Hạ vũ.

Tên gọi dân giã : Cao Mật (Cao Một) .
Niên đại : – 2200 đến -1700 Dương lịch , ? đến khoảng 679 Hùng lịch

 

Truyền thuyết về Sơn Tinh thì nhiều vô vàn, nhưng rõ nhất là truyện Sơn Tinh – Thủy Tinh, tổng kết ta có thông tin: Sơn Tinh là người đã chiến thắng Thủy Tinh, ý nói đã thành công trong việc trấn áp cơn hồng thủy khủng khiếp, tái tạo lại quốc gia, được Hùng Vương gả con gái và truyền ngôi, Sơn Tinh Tản Viên lên ngôi vẫn giữ hiệu là Hùng Vương, đối chiếu với sử liệu Trung Hoa ta nhận ra Sơn Tinh và Hạ Vũ chỉ là 1 nhân vật , cũng trị thủy gian lao vất vả, cũng tận tâm tận lực đến 3 lần đi qua nhà nghe tiếng con khóc mà không có thời giờ bước vào nhà. Ngày nay, Sơn Tinh vẫn được dân chúng chung quanh núi Ba Vì thờ với tên hiệu đầy đủ là: Tản Viên Sơn Thánh Quốc Chúa Đại Vương. Trong dân gian, Sơn Tinh còn có rất nhiều tên khác: Sơn Tinh – Tản Viên – Cao Sơn – Quí Minh – Nguyễn Tuấn V. v… với các ‘thần tích’ khác nhau đôi chút. Danh hiệu Tản Viên là rõ nhất về ý nghĩa nối dòng Hùng, dòng Tản Viên tiếp nối dòng Hiên Viên, hay Hiền Vương chuyển tiếp sang Tuấn Vương như thế rất rõ ràng trong việc liên tục quốc thống Họ Hùng : Đế Minh → Đế Nghi → Đế Lai → dòng Tản Viên – Hạ Vũ .
Nguyễn Hồng Sinh công bố trong “Kinh Dịch Huyền diệu và Ứng nghiệm” một thông tin cũng rất hay:
Kinh Dương Vương ở đây là Hùng Lạc Lâm lang được tôn là ‘Nam Triều Thánh Tổ Ngọc Hoàng Thượng Đế’ và vợ được tôn là ‘Đệ Nhị Thượng Ngàn Thánh Mẫu’.
Hùng Vũ Vương – Hiên Viên được tôn là “Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế’
Hùng Việt Vương – Tản Viên được tôn là “Tản viên sơn thánh quốc chúa đại vương” là sự tiếp nối hợp lẽ dòng Hùng.
Truyền thuyết Sơn tinh Thuỷ tinh viết :…nước càng dâng lên thì núi càng vượt cao hơn nữa…ta chợt hiểu về ý nghĩa chữ Việt trong danh hiệu Hùng Việt , Việt là ký âm của từ Vượt của Việt ngữ , Vượt lũ …đợt biển tiến Holosen , một thảm họa khủng khiếp mà cha ông ta đã kiên cường vượt qua sau cùng đã chiến thắng tai trời ách nước tất cả những thông tin về thời bi tráng ấy được cô lắng vào 1 nhân vật đó là Hùng Việt – Tuấn lang; từ Tuấn là ký âm bằng chữ Nho sai làm mất ý nghĩa chữ Tản trong Tản viên, Tản là tán đồng âm với Tốn là 1 quẻ của bát quái nghĩa là gió Hoa ngữ là phong chỉ phương tây đối lập với phương động – quẻ Chấn , Tản viên hay Tản vương đồng nghĩa với Tốn lang (không phải Tuấn) nghĩa là vương của đất Phong hay tây vương , Truyền thuyết Việt nói vua Hùng đóng đô ở Phong châu chính là chữ Phong này, đất Phong hay phong kinh của nhà Chu khi mới dựng nước cũng cùng một nghĩa , 2000 năm sau nhà Đường lập Phong châu đô hộ phủ cũng chính là chữ phong này.
Chính nghĩa Ngô Việt xuân thu nói: “Vũ đi khắp thiên hạ, trở về ĐẠI VIỆT, lên núi Mao để họp quần thần bốn phương, phong người có công, phong tước người có đức, chết rồi táng ở đây. Vũ là vua Hạ vũ , 2 chữ ‘Đại Việt’ ở đây đã khẳng định sự liên quan giữa danh hiệu Hạ vũ và Hùng Việt vương- Tuấn lang ,núi Mao thực ra là Mưu , mưu-mẹo chỉ phương tây như đã xác định trong bài ‘thập nhị địa chi Việt’ cũng chính là núi Tản , tản biến âm của Tốn , quẻ Tốn là phong –gió trấn hướng tây trong Tiên thiên bát quái .(nhìn trong không gian 3 chiều)
Tóm lại Tốn lang là vương của đất Phong tức đất phía tây của quốc gia tương tự như :
Viêm lang là vương phương bức (bắc).
Lâm lang là vương phương nam hay cõi Nam giao.
Sau cùng kế nghiệp Tốn lang là Hải lang  ta sẽ kể đến ở chương sau ; như thế đất nước đã trọn đủ 4 cõi.
Kinh Dương Vương có nghĩa là vua hay Chúa phương Nam hay phương Nước ngược với Viêm phương (phương Dịch Lý) nên trong lịch sử có nhiều Kinh dương vương như Lâm lang, Tuấn lang.v.v. trong truyền thuyết Đạo Giáo Trung Hoa do không hiểu chữ ‘Hùng’ nghĩa là gì nên thời gian tiếp nối người ta “bịa” ra điều rất ngộ nghĩnh … sự kiện ông Vũ được truyền ngôi và trở thành Hùng Vương … biến ra : ông Vũ hoá thành con gấu … theo Hán ngữ ‘Hùng’ là con gấu; vợ của ông Vũ sợ quá chết hóa ra hòn đá núi, chữ đá núi này chắc chắn có “gốc” là chữ “Đồ Sơn”, tên vợ ông Vũ là “Đồ Sơn Thị”. ‘Đồ’ là biến âm của từ đá, sơn là núi, qua 5, 7 lần dịch và sao chép …. từ Đồ Sơn biến ra ‘Đá núi’ thì cũng không lạ lắm.
Vua Vũ đã có lần hội chư hầu ở Côi kê…, hầu hết các sách sử đều chép như thế chỉ riêng có ông Trần trọng Kim trong Việt nam sử lược viết vua Vũ hội chư hầu ở Đồ sơn ; xét kỹ ta thấy ông Trần trọng Kim đúng vì lúc vua Vũ hội chư hầu làm gì đã có đất Cối kê, cả hai ba trăm năm sau khi vua Vũ chết thì Thành vương thời nhà Hạ trung hưng mới phong cho con thứ đất ấy làm chốn riêng thờ vua tổ , sử còn chép rõ..: vua tôi cắt tóc ngắn , xâm mình lội nước lao động cật lực khai phá đất mới…., vì là đất dành riêng thờ vua Vũ hay Hùng Việt nên sau này lập quốc vẫn gọi là nước Việt.
Khi hình thành nên tộc Kinh-Lạc dòng máu người họ HÙNG đã là sự hòa huyết của 3 thị tộc gốc: người dòng CẢ của phương bắc, người CỬU_LÊ của phương tây, người MUN hay MIÊU của phương nước hay nam xưa tức phương bắc ngày nay.
Truyền thuyết Việt nói : KINH DƯƠNG VƯƠNG kết hôn cùng LONG NỮ con ĐỘNG ĐÌNH QUÂN; thế là người họ Hùng đã đi hết đoạn đường mà tạo hóa sắp đặt để hòa thêm dòng máu thứ 4 vào huyết thống của mình dòng máu của LONG tộc ở phương ĐÔNG, diễn biến này được Truyền thuyết lịch sử Trung hoa viết :Vua ĐẠI VŨ lấy vợ là ĐỒ SƠN THỊ, Đồ sơn thị là người con gái ở ĐỒ_SƠN ; phải chăng là bãi biển Đồ sơn ở Hải phòng bắc Việt hiện nay ? cổ thư trung hoa có nói đến việc họ KINH XUYÊN và ĐỘNG ĐÌNH đời đời là thông gia..
Hùng Việt Vương – Tuấn Lang vẫn giữ quốc hiệu là Nam bang hay Lạc quốc .
Ta nên chú ý về những từ đồng âm dị nghĩa nếu không sẽ không thể hiểu khi đọc lịch sử Trung Hoa vì trong cổ sử chứa rất nhiều Dịch tượng . Thí dụ: cũng là từ Mun hay Man, khi dùng chỉ người Mông Cổ hay Mãn thì có nghĩa là người phương Nam (phương của Dịch Lý), vì phương Nam trong Ngũ Sắc là phương màu Đen là Huyền Thiên. Còn khi dùng để chỉ định sự vật theo màu sắc thật, thì ý nghĩa khác hẳn như gọi người Khmer là người Miên, người Miến Điện là Môn ý nói họ có màu da đen. Mun → Môn → Miên.
Dân tộc Việt tồn tại tới tận ngày nay, vẫn gọi tổ quốc mình là “Nước” và nhận định mình là người “Kinh” đủ thấy ấn tượng thời Hùng Việt Vương in đậm trong tâm thức con người đến chừng nào trên 4.000 năm qua bao cơn quốc nạn, sử sách bị tiêu hủy, bị tráo đổi nhưng “bia miệng vẫn còn trơ trơ”. bất chấp sự tàn độc và muôn vàn mưu ma chước qủy ta vẫn là ta thuở nào. Cổ sử Trung Hoa rất coi trọng ông Hạ Vũ thực ra không có ông Hạ Vũ, Hạ Vũ nghĩa là Vua Hạ Khi về già muốn truyền ngôi cho ông Cao giao nhưng ông đã chết trước, điều này cho thấy Hạ Vũ nhận vương quyền từ họ Cơ, họ của Hoàng Đế, nay muốn trao lại cho chính họ Cơ nhưng Cao Giao đã chết, nên ông Vũ muốn truyền ngôi lại cho ông Ích là con ông Cao Giao nối tiếp dòng Hùng Vũ (ông Vũ là con rể) theo đúng quan niệm đạo đức truyền thống. Nhưng sự việc đã diễn biến khác để sau đó có triều Hùng Hoa Vương kế tiếp.
Trong việc trị thủy của Hạ Vũ, cổ thư Trung Hoa có nói đến một điển hình “khai sơn phá thạch” đó là ông đã đục bạt cả một phần ngọn núi tên là Long Môn Sơn để khai thông dòng nước chảy ra biển. Hán Thư cũng có đoạn ngắn nhắc đến việc trị thủy: “Ở Giao Chỉ trước Công Nguyên, người Giao Chỉ đã đắp đê ngăn không cho nước sông Long Môn tràn bờ gây lụt lội…”
Để chỉ định chính xác Long Môn xưa, nay là con sông nào thì các nhà khoa học còn phải mất nhiều công sức, ở đây ta chỉ có thể liên kết 2 sự kiện: Núi Long Môn chắn dòng sông Long Môn là nơi Hạ Vũ đã “khai sơn phá thạch” khiến thông dòng nước chấm dứt cơn hồng thủy để ức đoán chính là vùng sông Đà núi Tản nơi có đền thờ Sơn tinh quốc chúa, với công trạng như thế đương nhiên ông Vũ trở thành thủ lĩnh của tổ quốc thời phục hưng, sử chép là ông được vua Hùng gả con gái và truyền ngôi , đô ấp của ngài là Khang địch , chữ địch là biến âm của chữ đoạt tên khác của quẻ Đoài cũng dùng chỉ phương tây trong hậu thiên bát quái , Khang hay khăng là phía tây theo Hà thư như vậy đô ấp Khang đoạt đồng nghĩa là Tây đô .

Theo Ngô Việt Xuân Thu, Vua Vũ con của Cổn là hậu duệ của Đế Chuyên Húc. Cổn lấy con gái nhà Tân thị tên là Hi. Nhiều năm dài bà này vẫn chưa có con đến khi lên núi Chỉ ăn được hạt ý dĩ mới hoài thai sinh Cao Mật. Cổn ở đất Thạch Nữu, Tây Khương (vùng Tứ Xuyên). Thời vua Nghiêu, Cổn được cử đi trị thủy nhưng không làm được việc bị vua Thuấn, người kế vị vua Nghiêu xử tử. Con của Cổn là Cao Mật(vua Vũ) thay Cổn tiếp tục hoàn thành công cuộc dở dang của cha.”

Lý thú và bất ngờ ở chỗ : cả Cao và Mật đều là từ Việt , Cao chỉ đấng bậc cao-qúy hay cao cả tức Thủ lãnh hay vua chúa , Mật là ký âm Hán văn từ MỘT là số đứng đầu trong hệ số đếm Việt nam , Cao Mật nghĩa là vua số 1 tức đầu tiên hoàn toàn đúng với sử liệu : vua Vũ là vua đầu tiên không chỉ là tổ nhà Hạ mà là tổ tất cả các vương triều Trung hoa trước Vũ chỉ là các vua của huyền thoại thời lập quốc mà thôi tức không thực.

Vua Đại vũ Sử thuyết Hùng Việt gọi là Hùng Việt vương – Tuấn lang tức Tản viên sơn thánh quốc chúa đại vương dự định cử ông Cao Dao thay mình làm vua sau này. Nhưng Cao Dao lại mất trước ông, vì vậy ông phong cho con cháu Cao Dao ở đất Anh, đất Lục, rồi lại tiến cử Bá Ích quản lý chính sự để chuẩn bị làm vua.
Năm 2198 TCN, Vũ đi tuần phía đông, đến Cối Kê thì mất. Bá Ích không nhận ngôi vua mà nhường lại cho con Vũ là Khải rồi tránh ra ở phía nam Cơ Sơn. Vì Khải cũng có nhiều uy tín nên thiên hạ nhiều người quy phục. Kể từ đời vua Khải, nhà Hạ giữ lệ cha truyền con nối. (trích Nguyễn thiếu Dũng).
Hùng Việt-Tuấn lang đã theo lệnh đế Thuấn tiến đánh Tam miêu nhưng không thành công, sau vua không đánh nữa mà lo mở mang “văn đức” để giáo hoá thiên hạ, chúa Tam miêu đã đến chầu nghĩa là thần phục như xưaThực ra chính ông Khải mới là người lập ra nhà Hạ , ông Vũ được vua Khải tôn phong là tổ nhà Hạ nên có danh hiệu Hạ Vũ , vì cũng là tổ mọi vương triều nên gọi là Đại Vũ .

Cao Dao hay Cao Giao nghĩa là chúa miền Giao chỉ , …con cháu ông được phong ở đất Anh và đất Lục , Anh và Lục chỉ là tam sao thất bản của An và Lạc nghĩa là vùng bắc và nam của đất Giao chỉ , An hay Ôn đồng nghĩa với Đào chỉ đất ở về phía Xích đạo , Lạc đồng nghĩa với Đường hay Việt Thường là phương nam xưa còn được gọi là phương ‘nước’ , Lạc cũng chính là nước theo chuỗi biến âm

:Lạc ̣c→lác→nác→nước

.Phải chăng đất An thời vua Vũ còn vết tích trong tên gọi Nghệ an ngày nay ?Nghệ An phải chăng là đất của hậu Nghệ , hậu là tước Nghệ là tên đất hậu Nghệ viết theo cấu trúc Việt ngữ ?

.Năm 2120 TCN, Hậu Nghệ đi săn, Hàn Trác đi theo. Trác mang rượu dâng lên Hậu Nghệ. Nghệ uống rượu say bất tỉnh, Hàn Trác thừa cơ giết chết cướp ngôi

.Hàn Trác phong cho hai con là Kiêu làm vua chư hầu đất ‘Quá’ và Ế làm vua chư hầu đất ‘Qua’…

Chữ ‘Việt’越 cả chữ hán và chữ Nôm ghép bởi bộ tẩu 走 là chạy và chữ qua 戉 là 1 loại binh khí phải chăng Hàn trác đã phong cho con làm vua 2 nước Việt ai đó đã chơi chữ cố ý bỏ chữ ‘tẩu’ để chỉ còn lại chữ ‘Qua’ và ‘Qúa’ nhằm xoá dấu vết ? .
Ông Cao Mật , ông Cao Dao , đất Anh và Đất Lục , nước Qua và nước Qúa là những nhân danh địa danh tự thân đã mang những thông tin qúy gía của lịch sử Việt nam

.Với những chứng cứ đã nêu có thể xác quyết

:-Thời vua Đại vũ – CAO MỘT là mốc thời gian kết thúc giai đoạn lập quốc bắt đầu thời vương quốc của dòng giống Hùng

.-Giao chỉ vùng đất thiêng nơi kiến lập Hữu Hùng quốc chính là đất tổ của cả dòng Bách Việt .

Giao chỉ – Lạc Việt đất và nước của các vua Hùng , quốc thống Hữu Hùng quốc đã 5000 năm vun đắp , phải làm gì đây để xứng đáng với biết bao nhọc nhằn và cả xương máu của tiền nhân .
Thời Hùng Việt Vương, Hạ Vũ đã gây ấn tượng rất sâu sắc trong lòng người Việt không bao giờ phai mờ và người Việt coi ông là tổ trực tiếp của quốc gia – dòng giống mình, trong dòng chảy liên tục của lịch sử, triều Hùng Việt Vương – hay Tản Viên Quốc Chúa cũng là thời điểm đặc biệt: là bản lề giữa ngàn năm lập quốc, thời đúc kết các dòng tộc thành một dân tộc thống nhất để sau đó chuyển mình trở thành 1 vương quốc. Về mặt lịch sử cũng chấm dứt thời sơ sử đề bắt đầu thời lịch sửThực ra chính ông Khải mới là người lập ra nhà Hạ , ông Vũ được vua Khải tôn phong là tổ nhà Hạ nên có danh hiệu Hạ Vũ , vì cũng là tổ mọi vương triều nên gọi là Đại Vũ .Dấu tích thời Hùng Việt -Tuấn lang lưu lại trong lòng đất đã được khảo cổ học Việt nam khám phá – khai quật và đặt tên là nền văn hoá Phùng nguyên, tuy còn đang tiếp tục nghiên cứu nhưng sơ bộ xác định các hiện vật thu được có nhiều nét tương đồng với các hiên vật cùng niên đại thuộc về nền văn minh tạm gọi là của người Tày cổ phân bố rộng từ núi rừng bắc Việt nam tới tận bờ Châu giang như vậy là hoàn toàn trùng khớp với đất Nam giao…(chỉ )thời Đường- Nghiêu Mở nước về phương nam xưa.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *