This post has already been read 71 times!

Đồ hình Bát quái hay 8 quẻ thiên nhiên .
Giữa đồ hình bát Quái này và Lạc đồ có sự tương thông về hình thức và nội dung

Số 1 = độc →đục → đặc , chất đục nặng cô đọng thành đất , đất dày là tượng quẻ khôn .

Số 2 hai → hà – hồ , quẻ Đoài = cái hồ

Số 3 – tam- xám → xẫm , quẻ Khảm = màu đen .

Số 4 – tứ →tây = phương tây , quẻ Tốn chỉ phương tây .

Số 5 -trung tâm tức ngũ lãnh .

Số 6 – lục = màu xanh ; màu xanh chỉ phương đông , quẻ Chấn – Thìn chỉ phương đông

Số 7 – sách →xích = màu đỏ , quẻ Ly = màu đỏ .

Số 8 – bạt → bệ = nền , cấn – căn = nền , người ta thường dùng ‘đất liền’ đối với ‘bể cả’ , đây là câu nói sai chính xác phải là ‘đất nền’, quẻ cấn tượng là đất , cấn = căn = nền .

Số 9 – cửu → cao , trời cao là tượng quẻ Kiền , dân gian Việt thường nói 9 tầng trời cũng vì lẽ này .

Nhờ sự tương thông ý nghĩa ta xác định được 1 bát quái đồ, gọi tên là Bát Quái – Lạc đồ hay đồ hình 8 quẻ Trời mà một phần ý nghĩa của nó ta đã luận ở phần hệ toạ độ không – thời gian 4 chiều trên .

 

Ý nghĩa của Bát Quái trong đồ hình này là gì?

Đó là sự nhìn nhận của Tiền nhân người Việt về thế giới và cuộc đời, tức những ý niệm rất căn bản, rất sơ nguyên nhưng lại là sự bao trùm toàn diện.

Cặp đối: Kiền -Khôn chỉ thế giới tự nhiên hay một không gian bao la gồm hết cả những thứ thấy và không thấy .

Cặp đối: Ly – Khảm chỉ thời gian , ly là mặt trời Khảm là mặt trăng , sự soay vần đến đi tự nhiên tạo thành ngày đêm nên thánh nhân dùng hình tượng này chỉ thời gian , người Việt thường nói : ba bảy hăm mốt ngày chỉ thời gian chóng qua , 3-7 chính là số của Lạc đồ ( xem hình trên ) .

Cặp đối: Chấn -Tốn chỉ tại thiên thành tượng; cặp Đoài -Cấn chỉ tại địa thành hình; Thiên và địa, trời và đất là cái nôi nuôi sống loài người, thế giới hiện thực, sinh động, bầu trời là tập hợp, những chất nhẹ- trong, nên đâu có hình, chỉ có thể nhận biết qua các hiện tượng mà cổ nhân chọn biểu diễn là: sấm sét và gió bão, đất thì lấy thế cao thấp để tượng trưng phần lõm xuống là đại dương mênh mông chỉ định bởi quẻ Đoài và phần lồi lên là đất liền tượng trưng bằng Quẻ Cấn. ( Chính xác là ‘đất nền’ ) .

Trong Việt ngữ chữ Kiền Khôn lớn hơn chữ vũ trụ nhiều lắm, vũ trụ chỉ phần không và thời gian hay nói theo thuyết tương đối là vũ trụ 4 chiều.

Càn – Khôn bao trùm cả những gì vượt qui luật hay là 1 siêu “không – thời gian”, vũ trụ chỉ là1 bên còn bên kia là siêu vũ trụ, đạo giáo gọi là thượng giới, Thiên Quốc của Ngọc hoàng Thượng đế v.v…

Bát Quái – Lạc đồ chính với kết cấu : Mẹ tròn –con vuông là thế giới quan của họ Hùng; thể hiện rõ sự cố gắng vượt qua chính mình của con người, siêu nhiên là sự vượt qua tầm với của khả năng nhận thức, quá khả năng phán đoán của não bộ… nhưng vẫn xác quyết là có đấy; nó tồn tại như mặt đối của tự nhiên theo đúng luật lưỡng lập.

 

2/ Bát quái Tiên thiên hay 8 Quẻ con Người .

Đồ hình 8 quẻ con người lấy con người làm đối tượng , nó diễn tả vị trí và sự tương tác trong guồng máy vĩ đại :con người – thiên nhiên – xã hội .

4 quẻ Càn, Khôn, Ly, Khảm là nội quái, là các thành phần bên trong làm nên phần tinh thần của mỗi con người, đồ hình 8 quẻ người diễn tả sự tương tác nội thân đồng thời tương tác với môi trường.

a. Trục Càn – Khôn .

Kiền là lớn mạnh, là ý chí tự chủ của con người.

Khôn là bản năng sinh lý, thể xác con người cũng chỉ là 1 sinh vật nó cũng bị chi phối bởi các qui luật sinh hóa và vật lý. Khuynh hướng của quẻ Khôn rất là hoang sơ, hoang sơ như loài thú vậy, nhưng sở dĩ con người vượt trên mọi loài vì Khôn phải quy phục cái lớn mạnh tức quẻ Kiền hay Cường; sự tuân phục này ngôn ngữ Việt Nam gói trong từ kép “khôn ngoan”, khôn tức bản năng đã được chỉ định trong tượng tin quẻ Khôn, ngoan là nghe theo (từ Việt). Ta thấy ý nghĩa rất rõ ràng, tương tự với quẻ Kiền Việt ngữ có từ “lớn mạnh” ngắn gọn nhưng đầy đủ về ý nghĩa, tương đương với cả câu của đại tượng: “Thiên hành kiện quân tử dĩ tự cường bất tức”

Tới đây có thể nói không quá lời là với người Việt thì Dịch là văn và văn chính là Dịch; nghĩa là trong 1 câu nói rất dân giả chẳng cần chút trí thức nào cũng đã vận dụng Dịch lý nhuần nhuyễn như cơm ăn, áo mặc vậy.

Thí dụ: mong con cái khôn lớn như những dòng trên đã chỉ ra: khôn lớn chính là 2 quẻ Kiền, Khôn đấy. Khôn ngoan và lớn mạnh là tiêu chí của trưởng thành tức là thành “người lớn” từ ‘quân tử’ trong Nho giáo cũng chỉ có nghĩa là người lớn – người trưởng thành , đám Tàu ô ấm ớ biến ‘quân tử’ thành ‘con vua’ làm ô danh Nho giáo . , họ cũng biến Quẻ Khôn chỉ bản năng thành đối tượng … của khuynh hướng triết lý khinh rẻ thân xác dạy con người phải “khắc kỷ – diệt dục ” ; đã là bản năng hay sinh lý tức là cái gì đó rất bình thường, vấn đề là thỏa mãn nó như thế nào thôi, đói thì ăn khát thì uống là lẽ tự nhiên , nhưng phải ăn uống trong cái đạo lý … công bình, chiếm đoạt của người khác để thỏa lòng mình mới là điều phải lên án.

b. Trục Ly – Khảm

Ly – Khảm tức Lý và Tình hay Lý trí và Tình cảm.

Lý trí là sự sáng suốt của con người. Nhờ có lý trí con người mới phân biệt được đúng sai phải trái. Quẻ Ly “chủ trì” sự tương tác “con người – tự nhiên”, tự nhiên vận động theo qui luật của tự nhiên, việc khám phá và vận dụng các qui luật là chức năng của lý trí con người. Người ta thường nói ‘công lý’ vì lý đúng với mọi người mọi nơi mọi lúc không có ngoại lệ, ngược lại tư tình là tình cảm riêng biệt cho từng đối tượng, người có thân có sơ, có yêu có ghét không ai giống ai. Còn khi đạo đức hay triết học nói đến yêu người hay lòng nhân ái tức nói đến một con người chung, hay đại biểu “người”, lòng nhân ái là 1 đức hạnh phi vật thể đó là sự chia xẻ vật chất, nhường cơm xẻ áo, lý và tình đâu có đối lập? mà là 1 sóng đôi- lưỡng lập của Dịch học. Lý trí và tình cảm là 1 lưỡng nghi hợp với sóng đôi của nó là cặp ý chí – bản năng hình thành tứ tượng bên trong hay nội thân .

Tứ tượng bên trong sóng đôi với Tứ tượng bên ngoài diễn tả sự tương tác giữa con người và môi trường, 1 bên là môi trường xã hội bên kia là môi trường tự nhiên. Con người là 1 sinh vật xã hội, nói như thế tức khẳng định không thể nào tìm được con người độc đinh chỉ 1 mình vì ngay từ khi sinh ra rồi lớn dần thì trong não bộ thông qua giao tiếp đã mang cái vốn trí thức của cộng đồng .

loài người là sinh vật cao cấp nhất sinh sống trong môi trường kép khác với loài vật chỉ có môi trường tự nhiên mà thôi .

c. Trục Đoài – Chấn

Đối với môi trường tự nhiên thì con người tương tác với 2 dạng thức:

– Hiểu biết về tự nhiên, phát hiện các qui luật vận động trong giới tự nhiên và lợi dụng các qui luật này để phục vụ cho chính mình, nói chung sự hiểu biết này gọi là tri thức được Dịch học tượng trưng bằng quẻ Đoài hay Điều, Điều là lời lẽ, điều tiếng trong tiếng Việt nó còn có nghĩa là “cái đúng, lẽ phải”. Thí dụ : tên cướp hù dọa mọi người biết “điều” thì đứng yên.

– Tác động vào tự nhiên được Dịch học biểu thị bằng quẻ Chấn. Ban đầu con người tác động vào tự nhiên chỉ bằng sức cơ bắp, sau này dần tăng lên với sức máy móc, người chỉ còn tham gia bằng trí tuệ, sức mạnh tác động ngày càng lớn đem lại của cải vật chất ngày càng nhiều, và đời sống con người ngày một thêm phong phú.

d. Trục Tốn – Cấn

Xét cho cùng xã hội cũng là 1 cơ thể sống, bản thân nó cũng có nhiều cơ phận, làm sao để thống nhất điều khiển hoạt động của các cơ phận đó? Như vậy xã hội cũng cần có bộ não, với con người thì các bộ phận trong cơ thể là cấu tạo “tự nhiên, ý muốn của con người không can thiệp vào được, nhưng đối “cơ thể” xã hội hay cộng đồng người thì khác, việc tổ chức xã hội ra sao do con người quyết định, cơ chế vận hành cũng do con người ấn định không có sự “đương nhiên” ở đây. Ta thấy ngay thế giới đương đại cũng tồn tại nhiều thể chế khác nhau từ độc tài tới dân chủ .

Việc tổ chức quốc gia, tuyển chọn người lãnh đạo và mối tương quan hiến định giữa các cơ quan … hợp thành nền chính trị ; Dịch học biểu thị bằng quẻ Tốn hay Toán, từ kép của Việt ngữ ‘lo toan’, ‘gánh vác’ là mô tả quyền hành chính trị quốc gia rất đúng nghĩa, Dịch học gọi là Tề hồ Tốn tức quẻ Tốn là sắp đặt, tổ chức và quản trị (Tề).

Tóm lại: quẻ Tốn chỉ nền chính trị của một quốc gia .

– Chế độ kinh tế là sự cố kết giữa người và người để tác động vào thiên nhiên làm ra của cải, phân phối và tiêu thụ số của cải đó, Dịch học tượng trưng chế độ kinh tế bằng quẻ Căn hay Cấn, tại sao lại là Căn? Căn là cái nền, những gì xây dựng trên phải tựa vào nó. Nếu Căn là chế độ kinh tế thì cái xây dựng trên nó chính là chế độ chính trị, kinh tế là cái nền của chính trị Là ý nghĩa của quẻ Cấn- căn . Còn kinh tế đối với trình độ kỹ thuật hay công cụ sản xuất lại là Cản. Với mỗi trình độ kỹ thuật hay mức tiên tiến của công cụ mà con người sử dụng để tác động vào tự nhiên cho ta 1 cơ cấu tổ chức kinh tế khác nhau. Sự phù hợp cho ta kết quả tối ưu với năng suất ở mức cao nhất, do sự phân phối quyền và lợi trong bản thân chế độ, kinh tế thường cản trở sự cải tổ chính trị làm sự chuyển biến thay đổi chế độ xã hội thường chậm so với yêu cầu khách quan.

Quẻ căn còn 1 nghĩa nữa là ‘Cán’, cán là cái người sử dụng phải nắm lấy, cầm lấy để điều khiển công cụ . Tư tưởng nắm lấy “tiền của” để điều khiển, kiểm soát sự vận hành guồng máy xã hội đã có ngay trong Dịch học, cụ thể là Chu Dịch thời 3.000 năm về trước.

Đồ hình 8 quẻ con người với kết cấu : tròn ẩn trong vuông chính là nhân sinh quan của họ HÙNG

Chỉ với từ ‘Cấn’ biến thành Căn, Cản, Cán cũng cho thấy Dịch học không thể phiên dịch qua ngôn ngữ khác được, ngay cả Hán ngữ cũng không ngoại lệ.

*Đồ hình 8 quẻ tiến hóa.

Bát quái Tiên thiên là đồ hình cấu tạo, còn Bát quái Hậu thiên là đồ hình vận động tiến hoá xã hội .

 

Đồ hình Bát quái Hâu thiên Dịch học họ Hùng khác với Hậu thiên của Chu Dịch ở vị trí Kiền – Khôn.

 

Đồ hình Bát quái Hâu thiên được tiền nhân người Việt vận dụng chỉ 4 phương làm mốc chuẩn về mặt địa lý quốc gia.

Như đã nói đến nhiều ở phần Dịch tượng số, người Việt lấy hướng xích đạo là hướng Bức, biến âm thành Bắc, nó còn nhiều tên khác liên quan đến từ ‘lửa’ như viêm nhiệt, ôn nhiệt, họ hổ (hỏa); tổ tiên người Việt còn xưng mình là Viêm bang, ngày nay ta gọi vùng này là nhiệt đới. Ta nhận thấy khi xác định hướng Bắc rõ ràng tiền nhân ta đã dựa trên thực tế của địa lý – khí hậu, không thể tùy tiện lộn ngược được … như ai đó đã làm.

Một nhận xét nữa : cả thế giới chỉ Việt Nam có phương Đoài, người Trung Hoa không hề có. Vào năm 1974 sau khi khám phá ra Chu Dịch bản lụa ở mã Vương Đôi, người Trung Hoa mới biết quẻ Đoài còn gọi là quẻ Đoạt. Phương Đoài- Đoạt là phương tây cũng là phương Định (đối lập với phương Đông tức phương Động) … Không biết từ đời nào … ngôn ngữ Việt đã có từ kép ‘định – đoạt’ tức là ‘quyết’ việc gì đó, chữ Đoạt ở đây rõ ràng chỉ quẻ Đoài .

Bên đông, phương động quẻ Chấn … gói gọn trong ‘chấn động’ ngược với bên tây là ‘định đoạt’ hết thảy đều là dịch tượng ., chỉ với điều này cũng đủ để nói Dịch học là nền tảng của văn hoá văn minh Việt , những nguyên lý Dịch học là món ‘thường thức’ dân gian dùng như cơm ăn nước uống hàng ngày không cần động não vận dụng chi cả .

Trong Hậu thiên bát quái đồ 8 quẻ sắp xếp thành hình vuông 4 cạnh :

Các Cạnh : Kiền ─ Đoài ─ Khôn

– Tốn ─ Chấn ─ Cấn

– Tốn ─ Ly ─ Kiền

– Cấn ─ Khảm ─ Khôn

1. Cạnh Kiền – Đoài – Khôn

Là Cạnh phía tây đồ hình , tây → tư- riêng tức cá nhân, với mỗi người thì Kiền là đời sống tinh thần, Khôn là đời sống thể xác.Tinh thần và thể xác ngoài những gì là bẩm sinh, thiên định. Ta có thể chủ động chỉnh sửa, thăng tiến nó. Tri thức là 1 kênh mà qua đó ta có thể “bơm” thông tin vào não bộ làm chuyển đổi hẳn 1 con người, 1 nhân cách sống. Giả dụ 2 cá thể có cùng đặc điểm sinh lý nhưng chênh lệch nhau về tri thức, chắc chắn họ có đời sống vật chất và tinh thần khác nhau, nên với đoạn Kiền – Đoài – Khôn , người xưa đã lao tâm khổ trí tác dịch nhằm chỉ cho chúng ta sự quan trọng của quẻ Đoài tức trí thức; quẻ Đoài biến người ngu nên người trí, nhiệm vụ của nhà cầm quyền là nâng cao mặt bằng dân trí mỗi ngày một cao hơn; mặt bằng dân trí là sự chỉ dẫn chắc chắn về tương lai một dân tộc, xét như thế ta thấy được địa vị của giáo dục quan trọng biết chừng nào. Con người gọi là văn minh lịch lãm hay thô kệch cũng là do tri thức. Ta có thể nhập khẩu một dàn máy để sản xuất, việc đặt mua đem về lắp ráp thời gian cũng chỉ tính bằng năm … nhưng những người vận hành nó thì đơn vị tính thời gian đào tạo phải là hàng chục năm (chỉ tính trình độ học vấn phổ thông cũng đã trên chục năm rồi). Nói như thế ta thấy việc đào tạo con người là hết sức cấp bách, đấy là việc không thể đốt giai đoạn, người và máy là 1 tổ hợp đồng trình độ nhưng thời gian “tạo ra” trình độ cho con người thường lâu hơn nhiều so với việc trang bị máy móc.

Một quốc gia không coi giáo dục là quốc sách hay định hướng sai chắc chắn quốc gia đó sẽ tụt hậu trở thành kẻ bị thiên hạ xỏ mũi lôi đi … không có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến thì đừng nói đến độc lập tự do, hay có chăng cũng chỉ là nêu lên như1 ước vọng thế thôi.

2. Cạnh hay đoạn Tốn – Chấn – Cấn

Cạnh này nằm ở phía đông, đông có nghĩa là số đông tức 1 cộng đồng người, quẻ Tốn là chế độ chính trị như ta đã định danh ở phần trước, quẻ Cấn biểu thị chế độ kinh tế, khi nền kinh tế thay đổi đương nhiên kéo theo 1 sự thay đổi trong nền chính trị; mà chế độ kinh tế lại được ấn định bởi trình độ kỹ thuật hay công cụ sản xuất, thứ mà con người dùng để tác động vào giới tự nhiên. Thánh nhân tác dịch đặt quẻ Chấn giữa quẻ Tốn và Cấn là dạy ta định luật: Chế độ kinh tế và chính trị được ấn định bởi trình độ kỹ thuật tức mức độ tiên tiến của máy móc.

Quẻ Đoài là tri thức quyết định 1 nhân cách.

Quẻ Chấn là công cụ máy móc quyết định việc tổ chức tức chế độ xã hội. Sự liên hệ chắc chắn gần như là liên hệ cơ tính, nơi này nơi khác, nước này nước khác sự chuyển đổi là tất yếu, chỉ nhanh hay chậm hơn một thời gian do những nỗ lực chủ quan, thúc đẩy hay trì kéo của con người. Tới đây ta thấy sự liên quan khép kín: tri thức – máy móc – kinh tế – chính trị, 4 mặt, 4 lĩnh vực thúc đẩy nhau theo kiểu vòng tròn, vậy đâu là khâu đột phá? bằng câu: Đế xuất hồ chấn. Dịch học đã chỉ cho ta: đó là khâu máy móc kỹ thuật hay công cụ, Đế xuất hồ chấn là lối văn cổ nếu ta hiểu: Vua ra từ quẻ Chấn hay phương đông thì chẳng ra nghĩa ngọn gì, theo ngôn ngữ ngày nay ta phải hiểu là ‘người cầm đầu công cuộc cải cách xã hội phải biết khởi sự từ việc cải tiến công cụ, nâng cao độ tiên tiến của máy móc’ từ đó tạo ra ‘một phản ứng dây chuyền’ cứ thế tiếp diễn mãi mãi.

Chế độ xã hội không thể thiết lập theo ý muốn chủ quan, sự không phù hợp giữa các mặt cấu thành xã hội sẽ giảm tốc phát triển, nếu độ vênh lớn quá tốc độ này có thể bằng 0 thậm chí là âm tức thụt lùi.

Đã qua rồi thời bị thống trị , Xuất phát sau là một sự thất thế nhưng người Việt có thể vững tin vào “tiềm năng” của mình với công lực vạn năm của mình , trong tương lai khó ai có thể bì kịp

Đã có công thức cho sự phù hợp giữa 8 mặt khi xã hội dịch chuyển đi lên hay chưa? Tới nay chưa thấy ai đưa ra, có thể đấy là cơ hội lịch sử dành cho chúng ta thời hiện đại này? Về công thức này chúng ta sẽ trở lại trong phần 64 quẻ trùng hay chồng.

3. Cạnh Tốn – Ly – Kiền

Tỗ hợp 3 quẻ này chỉ dẫn cho ta sự dung hòa cá nhân và xã hội về mặt quyền lực. Quẻ Kiền là tinh thần, tinh thần con người là phải tự cường bất tức nghĩa là phải làm chủ được mình, chính việc làm chủ này phát sinh mâu thuẫn : một bên là sự tự chủ của mỗi người và bên kia sự điều hành cộng đồng lại đòi hỏi phải quản trị thống nhất . Để vẹn đôi đường Dịch học chỉ ta xử lý vấn đề này bằng cách đặt chữ Lý ở giữa chữ Tốn và Kiền.

Ở đây chữ Lý có 2 nghĩa:

a. Lý là đức sáng nơi con người để nhận biết phải trái, đúng sai. Chính chữ Lý đã khiến xã hội có sự đồng thuận, ít ra cũng là sự đồng thuận của số đông, chữ Lý giúp các thành viên cộng đồng cùng nhìn về 1 hướng và gặp nhau ở “giải pháp tối ưu”. Trong guồng máy cai trị khi tiến từ nguyên thủy đến văn minh thì lãnh đạo kiểu cha chú sẽ mất dần thay vào đó chỉ còn là chức năng phối hợp điều hành, lãnh đạo trở thành 1 điều phối viên của xã hội , đến cực điểm văn minh nhiều khi “vị lãnh đạo” khả kính chỉ còn là 1 cái máy điện toán siêu tốc.

b. Lý là Lề – luật : Để hóa giải sự xung đột giữa quyền tự do tức sự tự chủ của mỗi người và quyền lực xã hội ta cần có lề luật, lề cùng ý trong lề đường, lề sách, ngày nay từ tương đương la “hành lang pháp lý”. Muốn có hiệu quả thì lề luật phải hội đủ 2 điều kiện: nhất quán và minh bạch. Xã hội càng văn minh càng đòi hỏi hệ thống pháp luật phải đầy đủ, nếu không thì không thể điều hành.

4. Cạnh hay đoạn Cấn – Khảm – Khôn:

Khôn là nhu cầu vật chất của một người, Cấn là nền tảng kinh tế của xã hội,

Với khối của cải vật chất có hạn phân chia cho các thành viên xã hội mà lòng các thành viên đó đều như thùng không đáy … Ta phải xử lý vấn đề này ra sao? Đây đúng là mâu thuẫn dai dẳng lâu đời nhất, nó phát sinh và có tuổi bằng với tuổi loài người ; do thuộc tính hữu hạn của vật chất ta không thể nào sản xuất ra một lượng của cải vật chất vô hạn, vậy đầu tiên ta phải điều chỉnh thiên hướng tiêu dùng, hướng lòng ham muốn vô hạn của con người đến cái phi vật thể, văn chương – nghệ thuật là của cải phi vật thể khối lượng sản xuất hầu như vô hạn.

phương cách thứ 2 là con người tự nguyện không tranh dành, tự nguyện biếu tặng người khác điều này sẽ có khi tình cảm yêu thương tràn đầy ; như Cha mẹ nhịn nhường phần ăn đó cho con mà trong lòng lại thấy khoan khoái nhẹ nhàng .

Quẻ Khảm chỉ tình cảm sự thương yêu được đặt giữa 2 quẻ Cấn và Khôn là ý thánh nhân chỉ bảo : muốn có một xã hội an hoà con người phải biết vun đắp tình cảm mở rộng lòng nhân ái , lúc ấy ‘chia sẻ’ sẽ thay thế ‘tranh dành’ đạt đến tột đỉnh mọi người sẽ muốn cho hơn muốn nhận

Trong thực tế ta không ảo tưởng về một xã hội người người nhường của cải cho nhau, nhưng một xã hội mà mọi người chỉ lấy cho mình những gì xứng đáng thì hoàn toàn là một xã hội có thể thực hiện , không xẻ chia thì ít lắm cũng công bình giữa mình và người khác. Chữ nhân ái nếu được vun đắp từ tấm bé liên tục từ gia đình đến học đường trở ra xã hội dần dần gây trong não phản ứng y như bản năng vậy. Làm Được như thế loài người sẽ có một xã hội an hòa lý tưởng.

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *