bài 2 - Dịch học và đồ đồng Đông Sơn . - HUNGVIET

This post has already been read 114 times!


Học giả Nguyễn cung Thông đã có bài viết chứng tỏ 12 con giáp là của người Việt dựa trên từ nguyên và sự biến đổi Hán văn theo thời gian , bài viết chuyên sâu theo thể hàn lâm bác học nên người ‘thường’ khó tường tận , tôi cũng đã đề cập đến vấn đề này theo lối ‘bình dân’ chủ yếu dựa trên sự gần gũi về thanh âm tiếng Việt của tên 12 địa chi và 12 con giáp , bài viết có cùng đích đến với bài viết của học giả Nguyễn cung Thông nhưng khác lối tiếp cận đặt và giải vấn đề , 1 đàng là hàn lâm 1 đàng là dân dã…, mong rằng 2 cách nhìn nhận sự việc có hiệu qủa hỗ tương để ai cũng có thể tường tận điều …tưởng là nhỏ nhưng thực ra vô cùng lớn vì ‘thập thiên can’ và ‘thập nhị địa chi’ là những thành tố căn bản nên liên quan đến việc xác định cội nguồn nền văn minh Trung hoa .
Bảng tóm tắt thông tin về 12 địa chi và 12 con giáp :


Hiện nay gần như mọi người cho là 12 địa chi và 12 con giáp là 2 phần riêng biệt …, điều này hoàn toàn đúng nếu xét tên 12 địa chi và 12 con giáp theo tiếng Tàu vì hầu như không có sự gần gũi tương tự nào về cả ý và âm đọc . Nhưng khi xét 1 cách đại khái tên gọi 12 địa chi và 12 con giáp trong tiếng Việt thì nhận ngay ra sự gần gũi về mặt thanh âm của :
Chi Mão – Mẹo và con mèo (rõ ràng chẳng đính gì với âm thố – thỏ của Tàu) .
Chi Ngọ và con ngựa (qúa xa với mã) .
Chi Hợi và con heo (không liên quan đến trư)
3 điểm trên 12 cũng là những điểm qúy hóa bước đầu dù chưa thể khẳng định sự liên quan căn cơ giữa 2 hệ thống ….
Đi sâu hơn chút nữa vào kho tàng Việt ngữ tìm sự liên quan …điểm mấu chốt để dựa là Dịch tượng của 4 quẻ :
Kiền : to cao , Khôn : nhỏ ít , Ly : thấu hiểu , Khảm : thân tình .
Quảng diễn bằng Việt ngữ ý tứ 4 quẻ liên quan tới 12 chi và tên gọi 12 con Giáp :
**Quẻ Khôn :
*Chi Tý ; tý – chút ; chút ↔chuột → dùng con chuột tượng trưng cho chi Tý . Với chi Tý – con chuột thì chẳng cần minh chứng gì vì ở Việt nam dân gian vẫn gọi là ông tý – ông bồ ( con voi) .
* Chi Sửu ; xíu là bé nhỏ ít , xíu tiếng Quảng là nước , Xíu ↔sủy – thủy → dùng con trâu nước tức thủy ngưu tượng trưng cho chi Sửu , ( người Quảng và người Giao chỉ xưa cùng gốc giao châu – Giao chỉ bộ tức cùng 1 gốc văn hóa ). Sửu là nước bác bỏ hoàn toàn việc lấy con bò hay hoàng ngưu là đại diện cho chi Sửu – Sủy của văn hóa Tàu .
* Chi Hợi ; heo ↔Hợi sự cân âm rất dễ nhận ra → con heo là con vật tượng trưng cho chi Hợi
**Quẻ Ly :
* Chi Dần ; người Việt gọi là cọp vằn báo đốm ; vằn cũng phát âm là dằn ; dằn ↔ dần vì vậy con cọp được dùng tượng trưng cho chi Dần .
* Chi mẹo ; mèo – Mẹo – Mão …việc con mèo là tượng trưng cho chi mẹo đã rõ .Người Tàu dùng con thỏ đọc là Thố hoàn toàn xa lạ về thanh âm với chi Mão – mẹo …nhưng việc này lại chỉ ra điều hết sức quan trọng trong Ngũ hành , Thố thỏ là biến âm của Thổ ; hành Thổ về vật chất là đất đá , bên đông sống động tượng trưng là cái cây gọi là hành Mộc , phía tây là hướng chết cứng (tây – tư – tử) tượng trưng bởi đất đá , gỗ và đá là 2 loại vật liệu phổ biến thời thái cổ nên khi tác Dịch người xưa đã dùng chúng là vật tiêu biểu cho khái niệm vật sống và vật chết tức cặp đối đẳng : biến đổi và không đổi . Dịch học phổ thông hiện nay cho Thổ là hành trung tâm …điều này phải xem sét lại .
* Chi Thìn , thông suốt tức mức cao nhất của hiểu biết , chỉ có thần mới có thể thông suốt nên có từ kép ‘thần thông ‘, rồng là thìn ↔thần nên người xưa chọn con rồng tựng trưng cho chi Thìn .
**Quẻ Kiền :
*Chi Tỵ ; to ↔tô↔tộ↔tỵ . cái tộ cái tô là cái chén lớn , người Việt thường ghép liền ‘to – lớn’ ,
Lớn ↔lắn ↔rắn ( tiếng Việt xưa và nay có sự biến đổi âm R và L như con rạch ↔ con lạch , trời xưa viết là blời .v.v.) rất có thể con rắn xưa cũng gọi là con lắn , con trăn là con tlăn …
Vì to đi với lớn mà người xưa lấy con rắn –lắn chỉ chi Tỵ .
*Chi Ngọ ; ngọ với ngựa là cận âm tưởng là dễ dàng lắm nhưng trong nền văn minh Dịch học thì Trâu và Ngựa luôn thuộc quẻ Khôn vì tính thuận tòng biết nghe lời chủ của nó nên không thể nào xếp nằm ở vị trí cao nhất thuộc quẻ Kiền được .; rất có thể đây là chi và con giáp đã bị người Tàu thay đổi lấy con ngựa – mã là con vật tiêu biểu của nếp sống du mục đặc trưng của văn minh Hán tộc đặt vào vị trí đỉnh cao .
Ngọ có thể là biến âm của Nghệ nghĩa là đỉnh cao chỉ vị trí cao nhất của mặt trời (giữa trưa là chính Ngọ) trong chu kỳ ngày .
Chi Nghệ về âm rất gần gũi tới tên gọi con Nghê thần thú đặc biệt chỉ của riêng người Việt .
Hoặc con voi tượng trưng cho chi Ngọ trong văn minh Ấn độ cũng là 1 gợi ý đáng quan tâm , dân gian Việt gọi 2 con vật bằng ông là ông tý và ông bồ , lại có câu ….’đầu voi – đuôi chuột’ chỉ sự đối nghịch , nếu đông chí nằm ở chi Tý thì Hạ chí nằm ở chi bồ – voi cũng là sự hợp lý …khác nữa là chi Ngọ tương ứng với Viêm thiên mà con voi còn gọi là con văm (khoẻ như văm) , viêm ↔văm . phải chăng vì vùng Hoàng hà không hề có voi nên ai đó đã thay voi bằng mã ?
*Chi Mùi ; Mùi tức chín mùi thì không dính gì tới con dê …nhưng người Việt thường nói đi đôi : ‘mùi – vị’
Vị phát âm Nam bộ là DỊ , dị ↔ dê nên con dê là hình ảnh tượng trưng cho chi Mùi .
**Quẻ Khảm :
*Chi Thân – con khỉ : con giáp là Khỉ , địa chi này gọi là Thân vì nó thuộc phương Đông quẻ Khảm là phương của tình cảm thân thiết , thân là từ Việt thuần chỉ mối giao tình xâu xa khắng khít giữa 2 con người , nghĩa khác của Thân như trong thân mình là chỉ phần ‘xác’ của con người , từ kép thân – xác chỉ cái ‘cơ sở vật chất’ mà khi thêm vào đó phần hồn thì thành con người đang sống , ‘Khỉ’ tiếng Việt cổ ngày nay thường phát âm là ‘Khởi’ nghĩa là bắt đầu , khi liên kết ý nghĩa “chi Thân và con khỉ” thì nhận ra thâm ý ….phần xác của con người thoát thai từ loài khỉ – khởi .
Ý khác : thân là gần mà về hình hài thì trong loài vật gần giống với con người nhất là con khỉ nên người xưa mới lấy con khỉ tượng trưng cho chi Thân . Thực kỳ diệu …một quan niệm mấy ngàn năm trước mà hoàn toàn đúng với thuyết ‘tiến hóa’ngày nay .
* Chi Dậu – con gà : về mặt âm thì không tìm thấy có sự liên quan giữa con gà và chi Dậu , nhưng khi xét về ý nghĩa dựa trên Dịch học thì sự liên quan hiện rõ ; Gà →kà –kê . Kê ↔ kề ↔ kế . 2 nhà liền ‘kề’ cách nhau cái bờ ‘dậu’ là hình ảnh chỉ cho ta rõ tại sao con gà – kà – kê lại tượng trưng cho chi Dậu biểu tượng của sự gần gũi thắm thiết .
* Chi Tuất – con chó: tuất chỉ là biến âm của Tiết , mà tiết là “chữ tác đánh chữ tộ” của ‘tiếp’ nghĩa là nối liền , là dính vào nhau (xin xem cặp quẻ Tiết – Hoán trong Dịch học họ HÙNG) . Tiếp điểm là nơi 2 vật , 2 hình có điểm chung , trong chu kỳ thì Tiếp là điểm kết thúc của vòng trước và cũng là khởi đầu của vòng sau . Ngày đầu năm mới người Việt gọi là TẾT – NHẤT , tại sao nhất là số 1 lại đi với tết thành từ kếp ?, truy nguyên thì ra cặp từ ‘tết – nhất’ chỉ là biến âm của ‘tiếp – giáp’ nghĩa là dính liền chỉ điểm nối trước sau giữa 2 chu kỳ , ‘tết’ là thời điểm hết năm cũ đồng thời là khởi đầu năm mới , giáp tiếng Việt cũng là liền kề nhưng Giáp còn là can thứ nhất của Thập can hay ‘chục con’ biến âm là ‘nhất’ đồng nghĩa với số 1. Tết – Nhất ; tiếp ↔tết↔tuất . Nhất = một ↔ mộc , mộc tồn là chó . Mộc đồng nghĩa với cây- gỗ trong tiếng Việt , cây ↔ cầy cũng là chó .Chỉ bằng Việt ngữ mới có thể biết tại sao trong 12 con Giáp ‘cầy’ (chó) được dùng làm con thú biểu tượng của chi Tuất .
Sau khi xét 1 vòng tên gọi 12 chi – 12 con Giáp và ý nghĩa của nó trong tiếng ta tiếng Tàu thì :
Dựa trên sự liên quan ngôn ngữ cả về thanh và ý trong Việt ngữ giữa tên gọi 12 địa chi và 12 con giáp có thể xác quyết cả 2 hệ địa chi và con Giáp đều là sản phẩm của trí tuệ Việt vì 1 lẽ rất giản đơn …tất cả tên gọi đều là từ Việt ngữ , mỗi từ đều hàm nghĩa rõ ràng ; độc đáo hơn ở chỗ… không phải là ý nghĩa thông thường mà là nghĩa trong Dịch học ; ngược lại nếu xét trong Hán ngữ thì tên gọi các chi chỉ là những từ vô hồn chẳng nghĩa ngọn gì … tính hệ thống của 12 địa chi hoàn toàn không có ; vậy căn cứ vào đâu mà ‘định danh’?.
12 địa chi một trong những thành tố ban đầu tạo nên nền văn hóa văn minh Trung Hoả , có thể từ hàng vạn năm trước người xưa đã dùng hình ảnh những con vật ‘thật’ biểu trưng cho các địa chi trong thời khởi đầu tiến trình văn minh chưa biết đến chữ viết , 12 Địa chi chính là hệ thống tín hiệu hình ảnh tiên khởi cùng dạng thức với hình Nai và Chim bảo lưu trên mặt trống đồng ở khoảng ngàn năm trước công nguyên gọi là điểu thú văn ; chữ thắt nút chính là những con số của Thiên can cùng với điểu thú văn của địa chi hợp thành hệ thống văn tự tối sơ chính là nền tảng của nền văn minh Á đông rực rỡ như ngày nay .
Chuyện này tưởng nhỏ mà thực ra vô cùng lớn …
Khi xác định được 12 con Giáp và 12 địa chi là thành tựu trí tuệ của tiền nhân người Việt thì hệ qủa đương nhiên Thập can và cả hệ thống Dịch học đồ sộ cũng thuộc nền văn minh Việt , như thế tứ thánh tác Dịch : Phục Hy – Văn vương – Châu công và Khổng tử phải là tiền nhân người Việt , các vua nhà Thương – Ân tất cả là người Việt tộc vì tên các vị đều là các Can trong Thập can .
Qua loạt bài Sử thuyết Hùng Việt thì rõ ra :
– Ông Bàn cổ thủy tổ của người Trung hoa chính là Bản cả thủy tổ thần thoại Việt tộc .
– Qua việc xác định nguồn gốc Dịch học cũng xác định được vua tối cổ Phục Hy là người của dòng tộc Việt .
– Thần nông Viêm đế là viễn tổ thần thoại dòng giống Việt .
– Hoàng đế hay đế ‘vùng màu vàng’ tức đất Trung tâm theo ngũ sắc tức ‘Giao chỉ – chỗ giữa’ chính là Hiền vương – Hùng Vũ tức vua Hùng , vua kiến lập Hữu Hùng quốc tức nước họ Hùng , ngày nay người Việt gọi là quốc tổ Hùng vương .
– Đế Nghiêu tên Việt là đế Nghi tên tục là ‘Giao thường’ nghĩa là ông …đất Giao phía nam .
– Đế Thuấn tên là Diêu trọng hóa , đế Thuấn vua vùng Nam Giao trong kinh Thư tức đất phía nam Giao chỉ mới mở rộng ở thời vua Nghiêu , Diêu chẳng qua là biến âm của Giao – giữa , Hoá chỉ vùng đất mới thâu nhập , ‘Giao hóa’ chỉ đất mới nhập vào Giao chỉ , Trọng là con trai thứ nhì . Đế Thuấn mất và chôn ở gần sông Tương , 2 bà vợ là công chúa con đế Nghiêu trầm mình nơi sông Tương chết theo chồng , sông Tương thuộc nước Sở mà Sở là Việt …hỏi cả 3 không là người Việt thì là người gì ?.
– Đại Vũ , Đại Vũ là vua lớn vì ông là tổ của vương quốc Trung hoa , ông còn tên khác là Cao Mật ; ‘cao-cả’ tiếng Việt đồng nghĩa với Lang là từ gọi thủ lãnh – vua chúa , Mật là biến âm của một , Cao Mật nghĩa là vua thứ nhất hay đầu tiên …hoàn toàn là tiếng Việt .
– Nhà Hạ gắn liền với đất Cối kê ở Chiết giang nên chắc chắn Hạ là triều đại của Việt tộc .
– Nhà Thương và Thương Ân … tên các vua đều là các can của thập can mà Thập can và thập nhị địa chi đã được đóng dấu ‘Việt’ như nói ở trên thì không thể là người của giống khác .
– Nhà Châu … các nhân vật Văn vương –Châu công và Khổng tử là 3 trong tứ thánh tác Dịch , mà Dịch học là sản phẩm của nền văn minh Việt nơi mà âm – Dương , Tròn – Vuông hóa ra ‘bánh dày – Bánh chưng’ rất đỗi gần gũi thiết thực thì đương nhiên nhà Châu cũng là triều đại của dòng giống Việt không thể khác được ….
Kết bài :
Từ thủy tổ tới Thái tổ – Viễn tổ …cao tổ cho tới các vua tam đại Hạ -Thương – Châu của Trung hoa tất cả là người Việt , 10 can – 12 chi , cả Dịch học và trống Đồng cũng là ‘tác phẩm’ của người Việt… thế thì còn gì phải xét phải bàn thêm nữa về lịch sử và văn minh Trung Hỏa ???.

2 thoughts on “12 con giáp và Sử Trung Hoa .”

  1. Kính chào tác giả bài viết.
    Tôi xin được nói đôi điều về những giá trị văn hóa VN: ngôn ngữ,triết học, ăn mặc, nghi lễ…. Mọi sự biến đổi và mất bản quyền văn hóa,lịch sử chỉ xảy ra từ thời Mông Cổ (TK X – XI) mà thôi. Khi cái thứ nhà “Ngô” ấy chạy loạn xuống phía nam và ở nhờ “Đại Việt – nhà Trần” và gả con cho họ. Rồi đến khi tràn xuống chiếm đất của người Ấn (Chăm) và người K’Me. Cuối đời Trần có biến và nhà “Hồ” tiếp nối thì nhà Ngô ấy đã sang cai trị được một số năm, đủ để gọi là đô hôj. Cướp hết sử sách vàng bạc… về phía bắc. Đến đời nhà Thanh thì chắc chắn cũng có một thời đô hộ và để lại dấu vết đó là một loạt tên làng xã có cái tên “Hán Việt” bên cạnh tên “Nôm”. Việc biến người Việt ở đất Hoa Nam thành mất gốc bằng cách cấm nói tiếng Việt, cấm mặc… Còn chữ viết thì đọc sang tiếng Thái- Katai rồi đến Mông miền. Vì vậy chúng phải đẻ ra bộ “phiên thiết” để đọc cho đúng chữ đã biến đổi. Vì cùng một loại hình ngôn ngữ đơn lập nên chữ tượng hình có thể đọc được bằng các thứ tiếng chứ. Kiểu “bút đàm”cuả các ông Nhật,Trung, Hàn, Việt là thế.
    Việc lấy âm và nghĩa “Hán Việt” để giải thích nguồn gốc ý nghĩa văn hóa và triết học của nó là chưa phù hợp. Về 12 con giáp thì người TQ hiện nay vẫn phát âm khác tiếng Hán và không thể giải thích tại sao lại đọc như vậy. 12 con giáp theo cặp và đương nhiên phải tuân theo quy luật âm dương ngũ hành. Con thỏ kể cả âm lẫn hình hài đều không thể phù hợp theo quy luật này. Chắc chắn có lí do nào đó mà chúng đổi từ mèo thành thỏ. Người TQ không phát âm như các âm chúng ta vẫn nói “tý, sửu…” mà đọc “ngọng” tiếng Việt. Tuy nhiên có một vài con lại có gộc từ tiếng Pali – sancrit. VD: tỵ (rắn) đọc là “xà/ xày” sang Hán đọc là “xì”. Còn “Sửu/trâu” họ vẫn đọc là zhou “trôu”. Con hổ là “jin/ yin” mà ta đọc là “dần” tức là “hùm”. TQ không có âm để phát âm đúng nên đọc là “hin” và âm “h” trong đó sẽ bị biến âm thành “yin”.Còn “Thân” (shen) chính là tinh tinh (tân tân). Và còn nữa…
    Kính mong tác giả thông cảm. Cháu nghiên cứu ngôn ngữ thấy như vậy.

  2. Thông cảm cái chi ? , việc bạn đang làm thực đáng quí , mong bạn nỗ lực hơn nữa trong cái vô vàn việc phải làm , vô vàn câu hỏi phải trả lời này ..
    Thân

Trả lời Văn Nhân Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *